Đề án Thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản trên địa bàn xã Mường Than

Thứ năm - 18/06/2026 23:54 62 0
Căn cứ Quyết định số 1169/QĐ-UBND ngày 11/6/2026 Phê duyệt Phương án tổng thể thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu. UBND xã Mường Than xây dựng đề án Sáp nhập bản trên địa bàn xã Mường Than như sau:
Đề án Thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản trên địa bàn xã Mường Than
ĐỀ ÁN
Thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản trên địa bàn xã Mường Than

PHẦN THỨ NHẤT
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN


I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Xã Mường Than được thành lập trên cơ sở thành lập, sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025. Sau thành lập, sắp xếp, phạm vi quản lý hành chính được mở rộng, địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều; một số khu vực đi lại còn khó khăn, chịu tác động rõ của điều kiện địa hình miền núi, chia cắt.
Hiện nay, xã Mường Than có 24 bản, tổng diện tích tự nhiên 154,16 km²;  với 2.789 hộ, 13.788 nhân khẩu, với 04 dân tộc cùng sinh sống (dân tộc Thái chiếm 69%; dân tộc Mông chiếm 23%; dân tộc Kinh chiếm 5%; dân tộc Dao và dâm tộc chiếm 3%). Hệ thống tổ chức bản thời gian qua cơ bản ổn định, góp phần triển khai chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Tuy nhiên, nhiều bản có quy mô số hộ còn nhỏ, chưa bảo đảm tiêu chí định hướng; một số bản nằm liền kề, có quan hệ cộng đồng gần gũi, thuận lợi để tổ chức lại; trong khi một số bản khác tuy chưa đạt quy mô số hộ nhưng có yếu tố đặc thù về địa hình, khoảng cách, phong tục, tập quán và điều kiện tổ chức cộng đồng dân cư. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải rà soát, thành lập, sắp xếp lại các bản để giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành ở cơ sở, đồng thời vẫn bảo đảm ổn định đời sống Nhân dân.
Việc xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp thôn, bản trên địa bàn xã Mường Than là cần thiết nhằm thực hiện chủ trương của Trung ương, Chính phủ và chỉ đạo của tỉnh Lai Châu về thành lập, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quản lý dân cư, tổ chức các phong trào, triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện chính sách an sinh xã hội và phục vụ Nhân dân.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16/6/2025;
- Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 10/11/2022;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ngày 27/6/2025;
- Nghị quyết số 112/2025/NQ-UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính;
- Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về thành lập, sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
- Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 Quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
- Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố;
- Chương trình hành động số 01-CTr/TU ngày 14/10/2025 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030;
- Chương trình hành động số 15-CTr/TU ngày 04/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng;
- Công văn số 4005/UBND-TH ngày 21/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ;
- Công văn số 4209/UBND-TH ngày 2/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về việc triển khai thực hiện Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ;
- Công văn số 4263/UBND-TH ngày 28/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về việc triển khai, hướng dẫn một số nội dung thực hiện thành lập, sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố;
- Kế hoạch số 4207/KH-UBND ngày 27/5/2026 của UBND tỉnh Lai Châu về việc triển khai thực hiện thành lập, sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu;
- Công văn số 2036/SNV-XDCQ&CTTN ngày 21/5/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu về việc đề nghị khẩn trương tổng hợp số liệu và xây dựng phương án thành lập, sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố;
- Căn cứ Quyết định số 1169/QĐ-UBND ngày 11/6/2026 Phê duyệt Phương án tổng thể thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
- Căn cứ Kế hoạch số 129-KH/ĐU, ngày 11/6/2026 của Đảng ủy xã Mường Than về việc lãnh chỉ đạo, triển khai thực hiện sắp xếp các bản và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở bản trên địa bàn xã Mường Than.
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG ÁN THÀNH LẬP, SẮP XẾP, TỔ CHỨC LẠI
 CÁC BẢN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ MƯỜNG THAN

I. KHÁI QUÁT CHUNG
Xã Mường Than là xã miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Lai Châu, cách trung tâm hành chính tỉnh Lai Châu khoảng 90 km. Xã được thành lập theo Nghị quyết số 1670/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở thành lập 02 đơn vị hành chính cũ là xã Mường Mít và xã Phúc Than Than. Sau thành lập, xã có tổng diện tích tự nhiên tích tự nhiên 154,16 km²; với 2.789 hộ, 13.788 nhân khẩu. Phạm vi địa giới hành chính xã Mường Than: phía Bắc giáp xã Pắc Ta, tỉnh Lai Châu; phía Nam giáp xã Than Uyên; phía Tây giáp xã Nâm Sỏ và Than Uyên; phía Đông giáp xã Nậm Xé tỉnh Lào Cai. Đây là khu vực có vị trí kết nối quan trọng giữa tỉnh Lai Châu với các địa phương lân cận của tỉnh Sơn La và tỉnh Lào Cai; trên địa bàn có tuyến Quốc lộ 279D đi qua, tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho giao thương, phát triển dịch vụ, du lịch và kết nối vùng.
Về địa hình, xã Mường Than có địa hình không đồng đều, chủ yếu là địa hình núi cao, sườn dốc; địa hình thung lũng, phân bố xen kẽ giữa các khu vực đồi núi. Địa bàn xã hệ thống hồ thủy điện Bản Chát, suối Nậm mít, Nậm Phang, Nậm Sóc, Nậm vai, Nậm Than và các khe, suối tự nhiên, vừa tạo tiềm năng về thủy sản, du lịch, sản xuất nông nghiệp, vừa đặt ra yêu cầu cao về phòng, chống thiên tai, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và bảo đảm an toàn dân cư.
Do đặc điểm địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt mạnh, dân cư phân bố không đồng đều, giao thông đến một số bản còn khó khăn, nhất là vào mùa mưa, việc tổ chức quản lý dân cư, triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và cung cấp dịch vụ công ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khi xây dựng phương án thành lập, sắp xếp thôn, bản cần xem xét đầy đủ các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, khoảng cách đi lại, điều kiện giao thông, phong tục, tập quán, dân tộc, lịch sử hình thành cộng đồng dân cư và mức độ thuận lợi trong tổ chức sinh hoạt cộng đồng; bảo đảm việc thành lập, sắp xếp phù hợp thực tiễn, không làm xáo trộn lớn đời sống Nhân dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở.
II. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU, NGUYÊN TẮC
1. Mục đích
- Thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản phù hợp với quy mô số hộ, dân số, điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, phong tục, tập quán, lịch sử hình thành cộng đồng dân cư và yêu cầu quản lý hiện nay.
- Giảm đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở bản; tạo điều kiện thuận lợi trong lãnh đạo, quản lý, điều hành và triển khai chủ trương, chính sách đến Nhân dân.
- Bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; không làm xáo trộn lớn đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất của Nhân dân; phát huy truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân cư.
- Tạo cơ sở để bố trí, thành lập, sắp xếp người hoạt động không chuyên trách ở bản, tổ chức lại chi bộ, ban công tác mặt trận và các tổ chức ở bản theo quy định.
2. Yêu cầu
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, sự quản lý thống nhất của UBND xã; thực hiện đúng quy định, đúng quy trình, dân chủ, công khai, minh bạch.
- Việc thành lập, sắp xếp phải được xem xét kỹ trên cơ sở số liệu rà soát, điều kiện thực tế từng bản; chú trọng yếu tố địa hình, khoảng cách đi lại, phong tục, tập quán, thành phần dân tộc, lịch sử hình thành cộng đồng dân cư và nguyện vọng của Nhân dân.
- Tổ chức lấy ý kiến cử tri đại diện hộ gia đình đảm bảo theo quy định.
- Sau thành lập, sắp xếp phải bảo đảm hoạt động thông suốt, không để gián đoạn trong công tác lãnh đạo, quản lý, cung ứng dịch vụ công và giải quyết công việc của Nhân dân.
3. Nguyên tắc
- Thành lập, sắp xếp các bản chưa bảo đảm tiêu chí về số hộ hoặc có yêu cầu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên thành lập các bản liền kề, có điều kiện đi lại thuận lợi, có quan hệ cộng đồng gần gũi.
- Đối với bản chưa đạt tiêu chí nhưng có yếu tố đặc thù về địa hình, vị trí biệt lập, phong tục, tập quán hoặc điều kiện tổ chức cộng đồng dân cư, phải giải trình rõ lý do, căn cứ đề xuất giữ nguyên.
- Tên bản sau thành lập, sắp xếp được lựa chọn trên cơ sở tôn trọng lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, quy mô dân cư, vị trí trung tâm và sự đồng thuận của Nhân dân.
- Không điều chỉnh địa giới hành chính cấp xã; việc thành lập, sắp xếp chỉ thực hiện trong phạm vi các bản thuộc xã Mường Than.
III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
1. Khái quát chung
Hiện nay, xã Mường Than có 24 bản, 2.789 hộ, 13.788 nhân khẩu; diện tích tự nhiên toàn xã là 154,16 ha. Địa hình xã chủ yếu là núi đồi, sườn dốc, bị chia cắt, dân cư phân bố không đồng đều giữa các bản, một số bản nằm ở khu vực biệt lập, giao thông đi lại còn khó khăn, nhất là vào mùa mưa.
Căn cứ tiêu chí tạm thời về quy mô thôn, bản theo hướng dẫn tại Công văn số 2036/SNV-XDCQ&CTTN ngày 21/5/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Lai Châu, thôn, bản có từ 150 hộ gia đình trở lên được đánh giá đạt tiêu chuẩn; thôn, bản dưới 150 hộ gia đình được đánh giá chưa đạt tiêu chuẩn và cần xem xét thành lập, sắp xếp, thành lập hoặc giải trình đối với trường hợp có yếu tố đặc thù về vị trí địa lý, địa hình chia cắt, dân cư phân tán.
STT Tên bản Dân số thường trú Đánh giá  
Hộ Khẩu  
1 Khì 1 55 251 Chưa đạt tiêu chuẩn  
2 Noong Thăng 165 965 Đạt tiêu chuẩn  
3 Khì 2 71 356 Chưa đạt tiêu chuẩn  
4 Đội 11 74 320 Chưa đạt tiêu chuẩn  
5 Nậm Sáng 73 371 Chưa đạt tiêu chuẩn  
6 Bản Chít 137 735 Chưa đạt tiêu chuẩn  
7 Nậm Vai 86 510 Chưa đạt tiêu chuẩn  
8 Sắp Ngụa 178 1059 Đạt tiêu chuẩn  
9 Bản Mớ 118 576 Chưa đạt tiêu chuẩn  
10 Nậm Ngùa 147 639 Chưa đạt tiêu chuẩn  
11 Che Bó 67 415 Chưa đạt tiêu chuẩn  
12 Đội 9 257 964 Đạt tiêu chuẩn  
13 Sang Ngà 124 620 Chưa đạt tiêu chuẩn  
14 Nà Phát 90 425 Chưa đạt tiêu chuẩn  
15 Nà Xa 177 785 Đạt tiêu chuẩn  
16 Sân Bay 111 549 Chưa đạt tiêu chuẩn  
17 Nà Phái 198 789 Đạt tiêu chuẩn  
18 Sam Sẩu 140 811 Chưa đạt tiêu chuẩn  
19 Hát Nam 62 329 Chưa đạt tiêu chuẩn  
20 Mường 78 406 Chưa đạt tiêu chuẩn  
21 Lào 66 331 Chưa đạt tiêu chuẩn  
22 Ít 64 289 Chưa đạt tiêu chuẩn  
23 123 659 Chưa đạt tiêu chuẩn  
24 Khoang 128 634 Chưa đạt tiêu chuẩn  
Tổng cộng 2.789 13.788 05 bản đạt, 19 bản chưa đạt
                 
Qua rà soát, toàn xã có 05/24 bản đạt tiêu chuẩn quy mô từ 150 hộ trở lên; 19/24 bản chưa đạt tiêu chuẩn theo tiêu chí số hộ. Các bản chưa đạt tiêu chuẩn cần được xem xét trong phương án thành lập, sắp xếp, thành lập; trường hợp đề xuất giữ nguyên phải có giải trình cụ thể về yếu tố đặc thù, điều kiện địa lý, địa hình, khoảng cách đi lại, phong tục, tập quán và yêu cầu ổn định đời sống Nhân dân.
2. Kết quả đạt được
Hệ thống tổ chức bản trên địa bàn xã được kiện toàn, hoạt động tương đối ổn định; đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng bản, ban công tác mặt trận và các tổ chức ở bản cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nhân dân các dân tộc trên địa bàn xã đoàn kết, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở. Công tác quản lý dân cư, tuyên truyền, triển khai chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến Nhân dân được thực hiện kịp thời.
3. Tồn tại, hạn chế
Một số bản có quy mô số hộ chưa đạt tiêu chuẩn theo định hướng thành lập, sắp xếp; có bản quy mô dân cư nhỏ, nằm liền kề hoặc có điều kiện thuận lợi để thành lập nhằm giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả quản lý ở cơ sở. Một số bản có địa bàn rộng, dân cư phân tán, địa hình chia cắt, giao thông đi lại còn khó khăn, nhất là các bản nằm ở khu vực biệt lập. Việc phân bố dân cư giữa các bản chưa đồng đều; hoạt động của một số bản còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.
Hiện nay, trên địa bàn xã Mường Than có 24 bản, tương ứng số lượng chức danh 24 Trưởng bản, 24 Bí thư chi bộ, 24 Trưởng ban Công tác Mặt trận cùng các chức danh kiêm nhiệm khác hoạt động tại cơ sở. Mặc dù hệ thống tổ chức ở các bản cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tuy nhiên do phần lớn các bản có quy mô dân số và số hộ thấp nên số lượng người hoạt động ở bản còn nhiều so với quy mô dân cư thực tế. Một số bản chỉ có vài chục hộ dân nhưng vẫn phải bố trí đầy đủ các chức danh theo quy định, dẫn đến số lượng đầu mối lớn, làm tăng chi ngân sách và chưa phát huy hết hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
Sau khi thực hiện phương án thành lập, sắp xếp từ 24 bản xuống còn 18 bản, dự kiến giảm 06 đầu mối bản; tương ứng giảm 06 Bí thư chi bộ, 06 Trưởng bản và 06 Trưởng ban Công tác Mặt trận, tổng cộng giảm 18 chức danh cơ bản ở bản. Việc thành lập, sắp xếp sẽ góp phần tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, đồng thời giảm chi ngân sách nhà nước dành cho đội ngũ người hoạt động ở bản.
Bên cạnh đó, một số chức danh ở bản hiện nay đang phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong điều kiện địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn, nhất là tại các bản vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Điều này phần nào ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, việc thành lập, sắp xếp thôn, bản là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập hiện nay, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả.
4. Nguyên nhân
Do yếu tố lịch sử để lại, các bản được hình thành gắn với quá trình cư trú, sản xuất, phong tục, tập quán của từng cộng đồng dân cư; trước đây việc thành lập, duy trì các bản chưa căn cứ đầy đủ vào tiêu chuẩn quy mô số hộ theo yêu cầu hiện nay. Bên cạnh đó, xã Mường Than có địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp, dân cư phân bố không đều, một số bản nằm cách xa trung tâm, điều kiện hạ tầng giao thông và nguồn lực đầu tư cho hoạt động ở cơ sở còn hạn chế.
5. Đánh giá chung
Các bản trên địa bàn xã Mường Than cơ bản ổn định về địa giới, tổ chức bộ máy và đi vào hoạt động nền nếp, góp phần tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh tại địa phương.
Tuy nhiên, trước yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tinh gọn đầu mối và thực hiện tiêu chuẩn quy mô thôn, bản theo định hướng của cấp trên, việc thành lập, sắp xếp lại các bản trên địa bàn xã Mường Than là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập, tạo sự đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
IV. NỘI DUNG PHƯƠNG ÁN
1. Đề xuất phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản
Trên cơ sở rà soát quy mô số hộ, số nhân khẩu, điều kiện địa lý, địa hình, khoảng cách đi lại, phong tục, tập quán, lịch sử hình thành cộng đồng dân cư và yêu cầu tinh gọn đầu mối ở cơ sở, UBND xã Mường Than đề xuất phương án thành lập, sắp xếp bản như sau: từ 24 bản giảm xuống còn 18 bản; thành lập 11 bản để thành lập 05 bản, giữ nguyên 13 bản.
STT Tên bản cũ Tên bản mới
 (Bản trung tâm)
Dân số Nhà văn hóa sử dụng chính Khoảng cách xa nhất đến bản trung tâm Ghi chú  
Hộ Khẩu  
I.  Các bản dự kiến thành lập      
1 Noong Thăng Noong Thăng 220 1216 Noong Thăng 1,5 km    
Khì 1  
2 Sắp Ngụa Sắp Ngụa 264 1569 Sắp Ngụa 2,5 km    
Nậm Vai  
3 Sang Ngà Ngà phát 214 1045 Nà Phát 3 km    
Nà Phát  
4 Chít Chít 211 1055 Chít 2 km    
Đội 11  
5 Mường Mường Mít 208 1026 Mường Mít 1 km    
Lào  
Ít  
II. Ban đổi tên      
6 Khì 2 Khì 71 256 Khì 0,5 km    
III. Các bản giữ nguyên      
7 Che Bó Giữ nguyên 67 415 Che Bó 0,5 km    
8 Đội 9 Giữ nguyên 257 964 Đội 9 2 km    
9 Nà Xa Giữ nguyên 177 785 Nà Xa 1 km    
10 Nậm Sáng Giữ nguyên 73 371 Nậm Sáng 2 km    
11 Sam Sẩu Giữ nguyên 140 811 Sam Sẩu 2 km    
12 Khoang Giữ nguyên 128 634 Khoang 6 km    
13 Giữ nguyên 123 659 3 km    
14 Nà Phái Giữ nguyên 198 789 Nà Phái 2 km    
15 Sân Bay Giữ nguyên 111 549 Sân Bay 3 km    
16 Bản Mớ Giữ nguyên 118 576 Bản Mớ 1km    
17 Nậm Ngùa Giữ nguyên 147 639 Nậm Ngùa 1 km    
18 Hát Nam Giữ nguyên 62 329 Hát Nam 5 km    
Tổng cộng 2789 13788      
                             
* Ưu điểm: Phương án giảm số lượng bản từ 24 bản xuống còn 18 bản, giảm 06 đầu mối, góp phần tinh gọn tổ chức ở cơ sở, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền xã và hoạt động của hệ thống chính trị ở bản. Các bản được thành lập cơ bản là những bản có quy mô hộ nhỏ, có điều kiện liền kề hoặc thuận lợi hơn trong tổ chức sinh hoạt cộng đồng. Phương án vẫn giữ nguyên các bản có vị trí biệt lập hoặc có yếu tố đặc thù về địa hình, khoảng cách đi lại, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của xã.
* Nhược điểm: Sau thành lập, sắp xếp, một số bản vẫn có quy mô số hộ còn thấp do điều kiện địa hình, vị trí biệt lập, dân cư phân tán, chưa thể thành lập, sắp xếp đạt tiêu chí quy mô theo định hướng chung. Việc thành lập một số bản sẽ tác động đến tên gọi, tâm lý, thói quen sinh hoạt cộng đồng của Nhân dân; do đó cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, lấy ý kiến cử tri đại diện hộ gia đình để tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai thực hiện.
2. Lý do lựa chọn phương án
Phương án thành lập, sắp xếp từ 24 bản xuống còn 18 bản là phương án có mức độ thành lập, sắp xếp phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu tinh gọn đầu mối và ổn định đời sống, sinh hoạt của Nhân dân. Phương án đã giảm được 06 bản so với hiện trạng, hình thành một số bản có quy mô dân số lớn hơn, thuận lợi hơn cho công tác quản lý, điều hành, bố trí người hoạt động không chuyên trách, đầu tư thiết chế văn hóa và tổ chức các phong trào ở cơ sở.
Đồng thời, phương án vẫn giữ nguyên các bản có điều kiện đặc thù, vị trí biệt lập, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn phù hợp với thực tiễn địa phương.
Việc lựa chọn phương án này hạn chế được những tác động lớn đến yếu tố lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán và tâm lý của Nhân dân so với phương án thành lập, sắp xếp giảm sâu hơn; đồng thời khắc phục được hạn chế của phương án thành lập, sắp xếp ít hơn là số lượng đầu mối sau thành lập, sắp xếp còn nhiều. Do đó, phương án được đánh giá là khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của xã Mường Than và yêu cầu thành lập, sắp xếp thôn, bản trong giai đoạn hiện nay.
3. Giải trình đối với các bản sau thành lập, sắp xếp chưa đạt 150 hộ
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, thôn, bản vùng trung du và miền núi phía Bắc phải có từ 150 hộ gia đình trở lên; trường hợp địa bàn biệt lập, giao thông khó khăn, dân cư phân tán, có yếu tố dân tộc, phong tục, tập quán, quốc phòng, an ninh hoặc điều kiện thực tiễn đặc thù thì có thể xem xét nhưng phải giải trình rõ lý do.
Đối với xã Mường Than, các bản Khì 2: 71 hộ; Bản Che Bó: 67 hộ; Bản Nậm Sáng: 73 hộ; Bản Sam Sẩu: 140 hộ; Bản Khoang: 128 hộ; Bản Vè: 123 hộ; Bản Sân Bay: 111 hộ; Bản Nậm Ngùa: 147 hộ; Bản Hát Nam: 62 hộ tuy chưa đạt tiêu chí 150 hộ nhưng đề xuất giữ nguyên do có yếu tố đặc thù, cụ thể:
1. Bản Khì 2: Có 71 hộ, 251 nhân khẩu. Đây là bản tái định cư, dân cư tập trung 1 khu vực, 100% là người Thái, có bản sắc văn hóa đặc thù của người Thái. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản, đề xuất đổi tên bản Khì là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
2. Bản Che Bó: Có 67 hộ, 965 nhân khẩu, Đây là bản dân tộc Mông, dân cư sống tập trung trong thung lũng cách biệt với các bản lân cận, có văn hóa đặc thù người Mông (2 bản giáp ranh là người kinh và người Thái). Nếu thành lập với bản khác sẽ ảnh hưởng đến việc đi lại, tham gia hội họp, tiếp cận thông tin và thực hiện chính sách tại cộng đồng; vì vậy, việc giữ nguyên bản Che Bó là cần thiết nhằm bảo đảm ổn định sinh hoạt của Nhân dân.
3. Bản Nậm Sáng: Có 73 hộ, 371 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Dao duy nhất trên địa bàn xã Mường Than, 100% là người Dao có bản sắc văn hóa đặc thù của người dao. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Bản Nậm Sáng là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
4. Bản Sam Sẩu: Có 140 hộ, 735 nhân khẩu. Đây là bản đa số dân tộc Mông, có văn hóa đặc thù, chia cách với bản gần nhất dãy núi Sam Sẩu. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Bản Sam Sẩu là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
5. Bản Khoang: Có 128 hộ, 510 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Thái, là bản tái định cư thủy điện Bản Chát có nhiều đặc điểm đặc thù. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Khoang là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
6. Bản Vè: Có 123 hộ, 1059 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Thái, là bản tái định cư thủy điện Bản Chát có nhiều đặc điểm đặc thù, Dân cư sống rải rác; cách biệt con suối. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Vè là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
7. Bản Sân Bay: Có 111 hộ, 964 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Thái, là bản tái định cư thủy điện Bản Chát có nhiều đặc điểm đặc thù. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Sân Bay là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
8. Bản Mớ: Có 118 hộ, 789 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Thái, là bản tái định cư thủy điện Bản Chát có nhiều đặc điểm đặc thù. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Mớ là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
9. Bản Nậm Ngùa: Có 147 hộ, 811 nhân khẩu. Đây là bản người dân tộc Thái, là bản tái định cư thủy điện Bản Chát có nhiều đặc điểm đặc thù. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Nậm Ngùa là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
10. Bản Hát Nam: Có 62 hộ, 634 nhân khẩu. Đây là bản có dân cư sống rải rác, cách biệt với bản gần nhất hơn 1km, cách biệt qua dãy núi, đường vào bản dốc cao khó khăn đi lạ. Đây là bản có quy mô hộ thấp nhưng có yếu tố đặc thù về dân tộc, địa hình và điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng; dân cư sinh sống gắn với khu vực sản xuất riêng. Vì vậy, việc đề xuất giữ nguyên bản Hát Nam là phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm ổn định đời sống và sinh hoạt của Nhân dân.
Từ các lý do trên, việc giữ nguyên 10 bản trên là cần thiết, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu tinh gọn đầu mối với điều kiện địa lý, địa hình, dân cư, phong tục tập quán và khả năng tổ chức thực hiện sau thành lập, sắp xếp. Việc tiếp tục thành lập các bản nêu trên với bản khác có thể làm tăng khoảng cách đi lại, gây khó khăn trong sinh hoạt cộng đồng, tiếp cận thông tin, tham gia hội họp, thực hiện chính sách và tổ chức phong trào tại cơ sở. Vì vậy, đề xuất giữ nguyên các bản này là phù hợp thực tiễn, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và tính khả thi khi tổ chức thực hiện.
4. Tác động của phương án
Phương án sau khi thực hiện sẽ giảm từ 24 bản xuống còn 18 bản, góp phần tinh gọn 06/24 bản, giảm khoảng 25 % đầu mối; thuận lợi hơn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý dân cư, triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và các phong trào tại cơ sở và tiết kiệm ngân sách. Các bản sau thành lập, sắp xếp có quy mô lớn hơn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ, ban công tác mặt trận, các tổ chức đoàn thể và đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở bản.
Đối với người hoạt động không chuyên trách ở bản, sau khi thực hiện phương án thành lập, sắp xếp từ 24 bản xuống còn 19 bản, số đầu mối bản giảm 06 bản. Theo cơ cấu các chức danh cơ bản ở bản gồm Bí thư chi bộ, Trưởng bản, Trưởng ban Công tác Mặt trận, dự kiến số chức danh cơ bản giảm tương ứng 18 chức danh.
Nội dung Trước thành lập, sắp xếp Dự kiến sau thành lập, sắp xếp Giảm
Số bản 24 18 06
Bí thư chi bộ 24 18 06
Trưởng bản 24 18 06
Trưởng ban Công tác Mặt trận 24 18 06
Tổng số chức danh cơ bản ở bản 72 54 18
UBND xã phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam xã và các cơ quan liên quan rà soát, bố trí, kiện toàn theo quy định; bảo đảm công khai, dân chủ, đúng tiêu chuẩn, phù hợp năng lực, uy tín, điều kiện thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ của từng bản. Trường hợp người hoạt động không chuyên trách dôi dư sau thành lập, sắp xếp được xem xét, giải quyết chế độ, chính sách theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.
5. Phương án xử lý sau thành lập, sắp xếp
Sau khi phương án thành lập, sắp xếp thôn, bản được cấp có thẩm quyền phê duyệt, UBND xã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp tổ chức công bố quyết định thành lập bản mới; phối hợp tham mưu kiện toàn tổ chức chi bộ, ban công tác mặt trận, trưởng bản và các tổ chức ở bản theo quy định.
Đối với nhà văn hóa, công trình cộng đồng, tài sản công của các bản trước thành lập, sắp xếp, UBND xã tổ chức rà soát, thống kê, quản lý và bố trí sử dụng phù hợp, bảo đảm hiệu quả, tránh lãng phí.
Hồ sơ, sổ sách, tài liệu, danh sách hộ gia đình, dữ liệu quản lý dân cư và các nội dung liên quan của bản cũ được bàn giao đầy đủ cho bản mới để tiếp tục quản lý theo quy định.
Việc thay đổi tên bản, biển tên, các loại biểu mẫu, hồ sơ hành chính và thông tin liên quan được thực hiện đồng bộ sau khi cấp có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận bản mới.
Đối với người hoạt động không chuyên trách ở bản dôi dư sau thành lập, sắp xếp, UBND xã phối hợp cơ quan có thẩm quyền rà soát, xem xét bố trí hoặc giải quyết chế độ, chính sách theo quy định hiện hành.
Các khoản quỹ cộng đồng, nguồn đóng góp hợp pháp của Nhân dân, công trình phúc lợi và các nội dung liên quan khác của bản trước thành lập, sắp xếp được bàn giao, quản lý công khai, minh bạch, bảo đảm quyền lợi của Nhân dân và sự ổn định tại cơ sở.
PHẦN THỨ BA
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
1. Tổ chức rà soát, hoàn thiện Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản: báo cáo xin ý kiến cấp có thẩm quyền (xin ý kiến Ban Thường vụ, Ban chấp hành Đảng bộ xã) hoàn thành trước ngày 05/6/2026.
2. Tổ chức tuyên truyền, công khai Đề án và lấy ý kiến Nhân dân
Sau khi có định hướng phương án tổng thể của cấp có thẩm quyền, UBND xã tổ chức công khai Đề án, tuyên truyền, giải thích rõ mục đích, yêu cầu, sự cần thiết, nội dung phương án thành lập, sắp xếp, tên bản sau thành lập, sắp xếp, phương án kiện toàn tổ chức ở bản và giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách. Tổ chức lấy ý kiến cử tri đại diện hộ gia đình tại các bản chịu tác động trực tiếp; việc lấy ý kiến phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, có biên bản, danh sách cử tri và tổng hợp kết quả theo quy định.
3. Hoàn thiện hồ sơ, trình HĐND xã xem xét, thông qua
Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến Nhân dân, UBND xã tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của cử tri; hoàn thiện ban hành Đề án, dự thảo Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về thành lập, sắp xếp thôn, bản trên địa bàn xã. Trình HĐND xã xem xét, thông qua theo thẩm quyền, bảo đảm hoàn thành trước ngày 20/6/2026.
4. Công bố Nghị quyết và tổ chức kiện toàn hoạt động ở bản sau thành lập, sắp xếp
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày HĐND xã ban hành Nghị quyết về thành lập, sắp xếp thôn, bản, UBND xã phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam xã và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức công bố Nghị quyết; quyết định chỉ định trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố lâm thời; các quyết định về thành lập, sắp xếp chi bộ, ban công tác mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở bản bảo đảm trang trọng, tiết kiệm.
5. Rà soát, xây dựng phương án bố trí, sử dụng và giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở bản dôi dư sau thành lập, sắp xếp
Xây dựng phương án bố trí, sử dụng, giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (nếu có) đảm bảo theo tinh thần Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 08/5/2026 và định hướng tại Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ đồng bộ với việc thành lập, sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố.
- Hoàn thành phương án bố trí, sử dụng, đề nghị giải quyết chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; bảo đảm hoàn thành đồng bộ với thời gian hoàn thành thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản trước ngày 30/6/2026.
6. Thực hiện chế độ báo cáo, theo dõi, kiểm tra
UBND xã thực hiện chế độ báo cáo tiến độ, kết quả thành lập, sắp xếp thôn, bản và bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách theo yêu cầu của UBND tỉnh, Sở Nội vụ và cấp có thẩm quyền; kịp thời phản ánh khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để được hướng dẫn, tháo gỡ. Đồng thời, chỉ đạo tăng cường nắm tình hình địa bàn, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để phát sinh điểm nóng, vụ việc phức tạp trong quá trình thành lập, sắp xếp.
II. TỔ CHỨC LẤY Ý KIẾN VỀ ĐỀ ÁN THÀNH LẬP, SẮP XẾP LẠI CÁC BẢN
1. Hình thức lấy ý kiến: Tổ chức lấy ý kiến cử tri đại diện hộ gia đình tại các bản có liên quan đến phương án thành lập, sắp xếp; việc lấy ý kiến được thực hiện công khai, dân chủ, có biên bản, danh sách cử tri và tổng hợp kết quả theo quy định.
2. Đối tượng lấy ý kiến: Cử tri đại diện hộ gia đình từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự, đang cư trú thường xuyên tại bản theo quy định.
3. Thời gian thực hiện: Tổ chức lấy ý kiến sau khi Đề án được cấp có thẩm quyền cho chủ trương; phấn đấu hoàn thành, tổng hợp báo cáo đúng tiến độ chỉ đạo của tỉnh và Sở Nội trước ngày 30/6/2026.
III. PHÂN CÔNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Phòng Văn hóa - Xã hội
- Chủ trì tham mưu UBND xã hoàn thiện Đề án, kế hoạch tổ chức thực hiện và hồ sơ trình cấp có thẩm quyền theo quy định.
- Hướng dẫn các bản tổ chức tuyên truyền, lấy ý kiến cử tri; tổng hợp kết quả lấy ý kiến, hoàn thiện hồ sơ, báo cáo UBND xã.
- Phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu phương án kiện toàn tổ chức, hoạt động ở bản sau thành lập, sắp xếp.
- Tham mưu thành lập, sắp xếp, bố trí, chỉ định Trưởng bản lâm thời theo quy định hiện hành; Tham mưu Kế hoạch tổ chức bầu trưởng bản giai đoạn 2026-2030, hoàn thanh trong thời gian 6 tháng theo quy định hiện hành.
2. Văn phòng HĐND và UBND xã
- Tham mưu Hội đồng nhân dân xã tổ chức kỳ họp lấy ý kiến đại biểu HĐND xã thông qua Nghi quyết thành lập, sắp xếp thôn bản địa bàn xã.
- Tham mưu UBND xã chuẩn bị các nội dung phục vụ kỳ họp HĐND xã hoặc cuộc họp có liên quan để xem xét, thông qua chủ trương, phương án theo thẩm quyền.
3. Phòng Kinh tế
- Phối hợp rà soát yếu tố địa giới, khoảng cách, điều kiện hạ tầng, đường giao thông, địa hình, bản đồ và các nội dung liên quan đến tổ chức không gian dân cư sau thành lập, sắp xếp.
- Tham mưu dự toán kinh phí phục vụ việc tổ chức lấy ý kiến, tuyên truyền, hoàn thiện hồ sơ và các nhiệm vụ liên quan; hướng dẫn thanh quyết toán theo quy định.
4. Công an xã
- Phối hợp rà soát, xác nhận thông tin cư trú, số hộ, nhân khẩu tại các bản; bảo đảm số liệu phục vụ lấy ý kiến cử tri chính xác, thống nhất.
- Chủ động nắm tình hình, phối hợp bảo đảm an ninh trật tự trong quá trình tuyên truyền, lấy ý kiến và tổ chức thực hiện thành lập, sắp xếp bản.
5. Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam xã và các tổ chức chính trị - xã hội xã
- Phối hợp tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, sự cần thiết của việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại các bản.
- Chị đạo các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội kiện toàn các chức danh theo quy định ngay sau khi Nghị quyết HĐND ban hành.
6. Các bản trên địa bàn xã
- Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến Nhân dân về chủ trương, phương án thành lập, sắp xếp; lập danh sách cử tri đại diện hộ gia đình, chuẩn bị điều kiện tổ chức lấy ý kiến.
- Tổ chức họp hoặc lấy ý kiến cử tri theo hướng dẫn; lập biên bản, tổng hợp kết quả, gửi UBND xã đúng thời gian quy định.
- Sau khi phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phối hợp tổ chức kiện toàn chi bộ, ban công tác mặt trận, trưởng bản và các tổ chức ở bản theo quy định.
 

Tác giả: Kiều Duy Thế Hoàn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down